Trang chủ / Sản phẩm / Năm 2015 / Sản phẩm: Chip và thẻ RFID băng tần HF

Sản phẩm: Chip và thẻ RFID băng tần HF

05/10/2015
Sản phẩm: Chip và thẻ RFID băng tần HF

Lĩnh vực dự thi: Phần cứng Nội dung dự thi: Sản phẩm CNTT Triển vọng Khu vực đăng ký: Miền Nam Đại diện: Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Thiết kế Vi mạch (ICDREC) Địa chỉ liên hệ: Lầu 7, Nhà điều hành Đại học Quốc gia TP.HCM, Khu phố 6, Phường Linh Trung, […]

Lĩnh vực dự thi: Phần cứng
Nội dung dự thi: Sản phẩm CNTT Triển vọng
Khu vực đăng ký: Miền Nam
Đại diện: Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Thiết kế Vi mạch (ICDREC)
Địa chỉ liên hệ: Lầu 7, Nhà điều hành Đại học Quốc gia TP.HCM, Khu phố 6, Phường Linh Trung, Quận Thủ Đức, TP.HCM
Thành viên thứ nhất: Ngô Quang Vinh
Sinh năm: 1983
Thành viên thứ hai: Đỗ Hoàng Sang
Sinh năm: 1984
Thành viên thứ ba: Nguyễn Hùng Quân
Sinh năm: 1985
Thành viên thứ tư: Nguyễn Hoàng Đức
Sinh năm: 1987
Thành viên thứ năm: Võ Tuấn Nam
Sinh năm: 1983
Thành viên thứ sáu: Hoàng Phúc Định
Sinh năm: 1989
Thành viên thứ bảy: Trần Kiên Cường
Sinh năm: 1986
Thành viên thứ tám: Nguyễn Thế Mẫn
Sinh năm: 1990
Thành viên thứ chín: Nguyễn Phước Lộc
Sinh năm: 1990
Thành viên thứ mười: Nguyễn Trung Hiếu
Sinh năm: 1985
Chip RFID là chip định danh không tiếp xúc không cần cung cấp nguồn riêng mà sử dụng chính năng lượng của đầu đọc/ghi để mã hóa và lưu trữ dữ liệu. Công nghệ RFID được ưa chuộng hơn công nghệ mã vạch hay băng từ vì đầu đọc không cần phải nhìn thấy hay tiếp xúc trực tiếp với con chip, tiết kiệm thời gian thao tác, xử lý dữ liệu, có bộ nhớ bên trong để lưu trữ thông tin và quan trọng nhất là khả năng mã hóa, bảo vệ thông tin của người dùng.

Hiện nay giải pháp RFID của ICDREC đã có module quản lý vào ra và thanh toán nhanh đang được ứng dụng tại Đại học Quốc gia TPHCM. Mỗi sinh viên, cán bộ công nhân viên sẽ sở hữu một thẻ có thể dùng để quản lý vào ra tại các giảng đường, phòng thí nghiệm quan trọng để bảo vệ tài sản công; người dùng có thể nạp tiền vào thẻ để sử dụng cho các dịch vụ trong khuôn viên trường. Tính năng thanh toán nhanh được đón nhận tích cực từ các đơn vị cung cấp dịch vụ và người dùng cuối do tiết kiệm được nhiều thời gian thanh toán trong giờ cao điểm so với hình thức thanh toán bằng tiền mặt, ngoài ra tính năng này còn giảm thiểu những sai sót của con người trong khâu thanh toán như đếm, thối, nạp tiền. Ngoài ra hệ thống ứng dụng RFID được thiết kế theo hướng mở, có thể tích hợp thêm nhiều dịch vụ trong tương lai như quản lý phòng y tế trường, thẻ vé giao thông công cộng, giữ xe, v.v…

Về mặt kinh tế, hệ thống ứng dụng công nghệ RFID được thiết kế đơn giản, gọn nhẹ, giúp tối giản thời gian thao tác, xử lý dữ liệu, tránh sai sót trong khâu thanh toán, bảo vệ tài sản chung. Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ tiên tiến này còn tạo một bộ mặt hiện đại cho xã hội, nâng cao chất lượng phục vụ của các đơn vị cung cấp dịch vụ và tạo thuận tiện cho người sử dụng. Việc làm chủ công nghệ RFID chứng tỏ Việt Nam hoàn toàn có khả năng nắm bắt công nghệ mới, thiết kế ứng dụng hiệu quả, phù hợp với thị trường nội địa cũng như thế giới và tạo chuỗi cung ứng sản phẩm, dịch vụ gần như khép kín từ xác định thị trường, thiết kế, sản xuất cho đến thương mại hóa sản phẩm.

Tại các nước phát triển, công nghệ RFID được ứng dụng, tích hợp vào đời sống rất nhanh sau khi các nhà đầu tư nhận ra được tiềm năng của công nghệ này. Tại Việt Nam, hiện nay đã xuất hiện nhiều ứng dụng RFID như giữ xe, quản lý vào ra, thanh toán v.v… tuy nhiên vẫn còn ở mức tự phát, nhỏ lẻ; những lĩnh vực như thẻ bảo hiểm y tế, thẻ giao thông công cộng vẫn còn dùng thẻ giấy, thẻ nhựa thông thường, chưa được nâng cấp lên thành thẻ chip không tiếp xúc, với một nước đông dân như Việt Nam thì đây là một thị trường tiềm năng và đầy hứa hẹn. Một điểm cần lưu ý ở đây là các nước phát triển về công nghệ RFID như Đức, Nhật đã nhìn thấy rõ thị trường tiềm năng này và đang cố gắng chiếm lĩnh thị trường Việt Nam thông qua các dự án vay vốn ODA, do vậy, các đơn vị nghiên cứu, thương mại trong nước và đặc biệt là các cơ quan quản lý Nhà nước cần chú trọng bảo vệ thị trường này, giảm phụ thuộc công nghệ vào nước ngoài